Công nghệ HALDOR TOPSOE A/S cho sản xuất Amoniăc

Posted on February 27, 2010

0


Hiện nay, Tổng Công ty Dầu khí Việt  Nam đang xây dựng hai nhà máy sản  xuất phân đạm đặt tại Phú Mỹ (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) và Cà Mau. Nhà máy Phân đạm Phú Mỹ có công suất 422.000 tấn NH3/năm (1.350 tấn NH3/ ngày) và 741. 000 tấn urê/ năm (2.200 tấn urê/ ngày); sử dụng nguyên liệu là khí đồng hành lấy từ Mỏ Bạch Hổ và khí thiên nhiên lấy từ Bồn trũng Côn Sơn và các bể dầu khí khác thuộc thềm lục địa phía Nam. Lượng khí tiêu thụ cho nhà máy vào khoảng 450 triệu m3/ năm. Nhà máy sản xuất amoniăc theo công nghệ của Công ty Haldor Topsoe A/S (Đan Mạch) và urê theo công nghệ của Công ty Snamprogetti SA (Italia). Dưới đây chúng tôi sẽ giới thiệu các công nghệ nói trên.

Công nghệ Haldor Topsoe A/S là công nghệ sản xuất amoniăc có mức tiêu hao năng lượng thấp, đi từ các loại nguyên liệu hyđrocacbon khác nhau, từ khí thiên nhiên đến naphta nặng.

Hiện nay trên thế giới có hơn 60 nhà máy sản xuất amoniăc theo công nghệ Haldor Topsoe A/S. Ngoài ra, nhiều nhà máy sản xuất amoniăc đi từ các nguyên liệu khác cũng áp dụng công nghệ này. Từ năm 1988, 52% sản lượng amoniăc của các nhà máy amoniăc mới xây dựng trên thế giới được sản xuất theo công nghệ Haldor Topsoe A/S.

Mô tả quy trình:

Nguyên liệu hyđrocacbon được tách lưu huỳnh, sau đó được phối trộn với hơi nước và được chuyển hóa thành khí tổng hợp trong thiết bị cracking bằng hơi nước. Thiết bị reforming bao gồm một thiết bị reforming sơ bộ (đây là thiết bị tùy chọn, nhưng đặc biệt có ích khi sử dụng nguyên liệu hyđrocacbon cao hoặc naphta), một thiết bị reforming ống đốt và một thiết bị reforming thứ cấp. Khí công nghệ được nạp vào thiết bị reforming thứ cấp này. Thiết bị reforming bằng hơi nước, với thiết kế kiểu ống, là thiết bị theo thiết kế đốt thành bên đã được Công ty Todsoe đăng ký sáng chế. Sau công đoạn reforming, khí tổng hợp sẽ đi qua các công đoạn chuyển hóa shift nhiệt độ cao và nhiệt độ thấp, công đoạn tách CO2 và me tan hóa.

Khí tổng hợp được nén đến áp suất tổng hợp, thường khoảng 140 – 220 kg/cm2, sau đó được chuyển hóa thành amoniăc trong chu trình tổng hợp nhờ  các thiết bị tổng hợp với thiết kế dòng chảy xuyên tâm. Các thiết bị tổng hợp này có thể là thiết bị hai tầng đệm xúc tác S – 200, thiết bị ba tầng đệm xúc tác S – 300, hoặc thiết bị S – 250 (với thiết bị chuyển hóa S – 200, tiếp theo là nồi hơi hoặc thiết bị đun quá nhiệt hơi nước và thiết bị chuyển hóa 1 tầng đệm xúc tác S – 50). Sản phẩm amoniăc được ngưng tụ và tách bằng cách làm lạnh. Tất cả các chất xúc tác sử dụng trong các bước phản ứng xúc tác của quy trình đều do Topsoe cung cấp.

  • THẾ NGHĨA
Theo Hydrocarbon Processing,3/2001.
Advertisements