Danh sách những người đã đạt giải Nobel Hoá Học

Posted on April 10, 2010

1


TRƯỚC ĐẠI CHIẾN THẾ GIỚI II

1901 Jacobus H. van’t Hoff (1852-1911) Hà Lan
Khám phá luật Động Hoá học và áp suất thẩm thấu trong các dung dịch
1902 Hermann Emil Fischer (1852-1919) Đức
Khảo cứu về sự tổng hợp các nhóm đường và purine

1903 Svante A. Arrhenius (1859-1927) Sweden
Thuyết điện ly (theory of electrolytic dissociation)

1904 Sir William Ramsay (1852-1916) Anh
Khám phá các khí hiếm (noble gases) trong không khí và xác định vị trí của chúng trong bảng phân loại tuần hoàn

1905 Adolf von Baeyer (1835-1917) Germany
Để phát triển hóa Hữu cơ Cơ cấu và hóa Kỹ nghệ. Công trình trên chất phẩm nhuộm và các hợp chất hydrocarbur thơm

1906 Henri Moissan (1852-1907) France
Nghiên cứu và cách ly chất Fluor và cho ra lò điện phục vụ cho khoa học (điều chế acetylene từ carbur calcium)

1907 Eduard Buchner (1860-1917) Germany
Nghiên cứu về Sinh Hóa . Khám phá sự lên men không tế bào (fermentation without cells)

1908 Sir Ernest Rutherford (1871-1937) Anh
Nghiên cứu trên sự phân rã các nguyên tố (Decay of the elements) và hóa học các hợp chất phóng xạ (chemistry of radioactive substances)

1909 Wilhelm Ostwald (1853-1932) Germany
Công trình nghiên cứu chất xúc tác, cân bằng hóa học và vận tốc phản ứng

1910 Otto Wallach (1847-1931) Germany
Phát triển ngành hóa Hữu cơ và kỹ nghệ hóa học nhờ các công trình sơ khởi trong lãnh vực các hợp chất alicyclic

1911 Marie Curie (1867-1934, gốc Poland) France Khám phá chất radium và polonium

1912 Victor Grignard (1871-1935) and Paul Sabatier (1854-1941)- France
Khám phá ra chất phản ứng Grignard (réactif Grignard,các organomagnésien) nhờ đó ngành hóa hữu cơ phát triển mạnh
-Hydrogen hóa các hợp chất hữu cơ với sự hiện diện của các kim loại

1913 Alfred Werner (1866-1919) Thụy Sĩ
Nối giữa các nguyên tử trong phân tử (Hóa vô cơ)

1914 Theodore W. Richards (1868-1928) USA
Xác định khối lượng nguyên tử

1915 Richard M. Willstätter (1872-1942) Germany
Nghiên cứu sắc tố của cây, đặc biệt chất chlorophyl (diệp lục tố)
1916
1917
1918 Fritz Haber (1868-1934) Germany
Tổng hợp ammoniac từ các nguyên tố
1919
1920 Walther H. Nernst (1864-1941) Germany
Nghiên cứu trên Nhiệt động học (Studies on thermodynamics)

1921 Frederick Soddy (1877-1956) Anh
Hóa học về các hợp chất phóng xạ, sự xuất hiện và bản chất của các chất đồng vị.

1922 Francis W. Aston (1877-1945) Anh
Khám phá nhiều chất đồng vị, khối lượng và phổ ký khối (mass spectrograph)

1923 Fritz Pregl (1869-1930) Austria
Microanalysis of organic compounds
1924
1925 Richard A. Zsigmondy (1865-1929, gốc Đức) Austria Chứng minh tính không đồng nhất của dung dịch keo và những phương pháp ông đã dùng, những phương pháp dựa trên căn bản của hóa học về chất keo (Colloid chemistry, ultramicroscope)

1926 Theodor Svedberg (1884-1971) Sweden
Disperse systems (ultracentrifuge)

1927 Heinrich O. Wieland (1877-1957) Germany
Constitution of bile acids
1928 Adolf O. R. Windaus (1876-1959) Germany
Nghiên cứu về sự cấu tạo sterol và sự liên quan của chúng với các vitamin (vitamin D)
1929 Sir Arthur Harden (1865-1940)
Hans von Euler-Chelpin (1873-1964, gốc Sweden) Anh
Germany Nghiên cứu sự lên men các chất đường và các enzyme tham dự vô sự lên men
1930 Hans Fischer (1881-1945) Germany Nghiên cứu máu và sắc tố thực vật, cấu tạo chất hemin và chlorophyl và đặc biệt sự tổng hợp hemin
1931 Friedrich Bergius (1884-1949)
Karl Bosch (1874-1940) Germany
Germany Khai triển quá trình áp suất cao trong hóa học
1932 Irving Langmuir (1881-1957) USA Surface chemistry
1933
1934 Harold C. Urey (1893-1981) USA Khám phá Hydrogen nặng (deterium)
1935 Jean Frédéric Joliot (1900-1958
Irène Joliot-Curie (1897-1956) France
France Tổng hợp những nguyên tố phóng xạ nhân tạo mới
1936 Peter J. W. Debye (gốc Hà Lan, 1884-1966) Germany Nghiên cứu momen lưỡng cực (momen điện phân tử) và trên sự nhiễu xạ tia X và tia điện tử bởi chất khí
1937 Walter N. Haworth (1883-1950)
Paul Karrer (1889-1971) Anh
Thụy Sĩ Nghiên cứu carbohydrat và vitamin C
Nghiên cứu carotenoids, flavins, vitamins A và B2
1938 Richard Kuhn (1900-1967) Germany Nghiên cứu carotenoids và vitamins
1939 Adolf F. J. Butenandt (1903-1995)
Leopold Ruzicka (1887-1976) Germany
Thụy Sĩ Nghiên cứu kích thích tố giới tính
Nghiên cứu polymethylenes và cơ cấu terpenes
1940
1941
1942
1943 Georg de Hevesy (1885-1966) Hungary Áp dụng của chất đồng vị như một chất chỉ thị (indicator) trong sự khảo cứu quá trình hóa học

SAU ĐẠI CHIẾN THẾ GIỚI II , LÚC NÀY KHOA HỌC THẾ GIỚI CÓ NHIỀU BƯỚC CHUYỂN MẠNH

1944 Otto Hahn (1879-1968) Germany Khám phá sự phân hạch cùa nguyên tử (nuclear fission of atoms)
1945 Artturi I. Virtanen (1895-1973) Finland Khám phá trong lãnh vực hóa học nông nghiệp và thực phẩm, đặc biệt tìm ra cách bảo quản rơm
1946 James B. Sumner (1887-1955)

John H. Northrop (1891-1987)
Wendell M. Stanley (1904-1971)
USA
USA
USA Khám phá khả năng kết tinh enzym

Điều chế enzym và protein của virus dưới dạng tinh chất

1947 Sir Robert Robinson (1886-1975) Anh Nghiên cứu sản phẩm thực vật , đặc biệt chất alkaloids
1948 Arne W. K. Tiselius (1902-1971) Sweden Phân tích bằng cách dùng điện điện di và sự thẩm thấu (electrophoresis and adsorption), những khám phá tính dị nguyên (heterogenous) của các protein huyết thanh (serum proteins)
1949 William F. Giauque (1895-1982) USA Đóng góp cho nhiệt động hóa học, tính chất của các chất khi ở nhiệt độ vô cùng thấp (sự khử từ đoạn nhiệt, adiabatic demagnetization)
1950 Kurt Alder (1902-1958)

Otto P. H. Diels (1876-1954)
Germany
Germany Khám phá và khai triển tổng hợp nối đôi và những kiểu phản ứng trên nối đôi

Diễn tả và sự quan trọng của sườn căn bản thơm của các Steroids (Aromatic Basic Skeleton of the Steroids)
1951 Edwin M. McMillan (1907-1991)
Glenn T. Seaborg (1912-1999) USA
USA Khám phá trong hóa học các nguyên tố siêu uranium (transuranium elements)
1952 Archer J. P. Martin (1910-
Richard L. M. Synge (1914-1994) Anh
Anh Phát minh máy distribution chromatography
1953 Hermann Staudinger (1881-1965) Germany Những khám phá trong lãnh vực hóa đại phân tử (macromolecular chemistry)
1954 Linus C. Pauling (1901-1994) USA Nghiên cứu tính chất của nối hóa học (chemical bond) và làm sáng tỏ cấu trúc phân tử phức tạp của các protein
1955 Vincent du Vigneaud (1901-1978) USA Nghiên cứu trên tính chất sinh hóa các hợp chất quan trọng của lưu huỳnh. Lần đầu tiên tổng hợp được kích thích tố polypeptide
1956 Sir Cyril N. Hinshelwood (1897-1957)
Nikolai N. Semenov (1896-1986) Anh
Liên Xô Cơ chế của những phản ứng hóa học (Mechanisms of chemical reactions)
1957 Sir Alexander R. Todd (1907-1997) Anh Nghiên cứu các nucleotides và coenzymes của chúng
1958 Frederick Sanger (1918- Anh Cấu trúc của proteins, đặc biệt insulin
1959 Jaroslav Heyrovsky1890-1967) Czech Republic Khám phá và khai triển phương pháp phân tích cực phổ (Polarography)
1960 Willard F. Libby (1908-1980) USA Khám phá chất phóng xạ Carbon14 dùng để định tuổi trong khảo cổ học, địa chất học, địa vật lý (radiocarbon dating)
1961 Melvin Calvin (1911-1997) USA Nghiên cứu sự hập thu acid carbonic của cây (photosynthesis)
1962 John C. Kendrew (1917-
Max F. Perutz (1914- gốc Anh) Anh
Áo Nghiên cứu cấu trúc của globulin proteins
1963 Giulio Natta (1903-1979)
Karl Ziegler (1898-1973) Italy
Germany Hóa học và công nghệ các chất cao polymer (high polymers)
1964 Dorothy Crowfoot-Hodgkin (1910-1994) Anh Xác định cấu trúc của các hợp chất sinh học quan trọng nhờ tia X
1965 Robert B. Woodward (1917-1979) USA Tổng hợp các chất hữu cơ thiên nhiên như quinine…
1966 Robert S. Mulliken (1898-1986) USA Nghiên cứu các nối hóa học và cơ cấu điện tử của các phân tử bằng cách dùng phương pháp quỹ đạo các phân tử ( orbital method)
1967 Manfred Eigen (1927-)
Ronald G. W. Norrish (1897-1978)
George Porter (1920) Germany
Anh
Anh Nghiên cứu các phản ứng hóa học vô cùng nhanh nhờ làm rối loạn sự cân bằng khi dùng các xung năng lượng rất ngắn (disturbing the equilibrium by means of very short pulses of energy)
1968 Lars Onsager (1903-1976) USA Norway Nghiên cứu nhiệt động học của quá trình không thuận nghịch (thermodynamics of irreversible processes)
1969 Derek H. R. Barton (1918-1998)
Odd Hassel (1897-1981) Anh
Norway Khai triển quan niệm về hình dạng các phân tử hữu cơ trong không gian (dạng ghế, thuyển) và áp dụng trong hóa học
1970 Luis F. Leloir (1906-1987) Argentina Khám phá đường nucleotides và vai trò của chúng trong sự sinh tổng hợp của carbohydrates ( biosynthesis of carbohydrates
1971 Gerhard Herzberg (1904-1999) Canada Cấu trúc của electron và hình học các phân tử, đặc biệt các gốc tự do (free radicals, molecular spectroscopy)
1972 Christian B. Anfinsen (1916-1995)
Stanford Moore (1913-1982)
William H. Stein (1911-1980) USA
USA
USA Nghiên cứu enzym ribonuclease

Nghiên cứu sự liên quan giữa cơ cấu hóa học và tính xúc tác của trung tâm hoạt tính của ribonuclease
1973 Ernst Otto Fischer (1918)
Geoffrey Wilkinson (1921) Germany
Anh Hoá hữu cơ kim loại với cơ cấu hợp chất kiểu bánh kẹp sandwich (Chemistry of metal-organic sandwich compounds)
1974 Paul J. Flory (1910-1985) USA Hóa lý các chất đại phân tử (Physical chemistry of macromolecules)
1975 Sir John Cornforth (1917, gốc Australia)

Vladimir Prelog (1906-1998, gốc Yugoslavia)
Anh
Thụy Sĩ Hóa lập thể của các phản ứng dùng chất xúc tác là những enzyme hữu cơ (Stereochemistry of enzyme catalysis reactions)

Nghiên cứu hóa lập thể các phân tử hữu cơ và phản ứng của chúng
1976 William N. Lipscomb (1919) USA Cấu trúc của boranes và giải thích tính chất của nối hóa học phức tạp của chúng
1977 Ilya Prigogine (1917) Belgium Đóng góp cho ngành nhiệt động học những quá trình không thẳng hàng và không thuận nghịch, đặc biệt cho thuyết cấu trúc phân rã ( theory of dissipative structures) có ích cho nhiều ngành
1978 Peter Mitchell (1920-1992) Anh Nghiên cứu sự truyền năng lượng sinh học ( biological energy transfer), khai triển thuyết thẩm thấu hóa học (chemiosmotic theory)
1979 Herbert C. Brown (1912)
George Wittig (1897-1987) USA
Germany Khai triển các hợp chất Bor hữu cơ và các hợp chất phospho chứa nhiều tác nhân trong sự tổng hợp hữu cơ
1980 Paul Berg (1926)
Walter Gilbert (1932)
Frederick Sanger (1918)
USA
USA
Anh Nghiên cứu sinh hóa của nucleic acids, đặc biệt Berg là người đầu tiên làm ra phân tử chứa một phần gen người và một phần gen vi khuẩn nhờ hóa chất (kỹ thuật giải phẫu gen)

Xác định các base sequences (các đoạn nhỏ DNA) trong nucleic acids (DNA) nhờ dùng các DNA của virus và vi khuẩn

1981 Kenichi Fukui (1918-1998)Japan
Roald Hoffmann (1937) USA
Thuyết về sự tiến triển của các phản ứng hóa học. (biên giới của orbital theory) (1)
1982 Aaron Klug (1926) Nam Phi
Phát triển các phương pháp tinh thể học (crystallographic) để giải thích cấu trúc các protein của acid nucleic phức tạp quan trọng.

1983 Henry Taube (1915) Canada
Cơ chế phản ứng của sự di chuyển các electrons , đặc biệt với các chất phức tạp kim loại (metal complexes)

1984 Robert Bruce Merrifield (1921) USA
Phương pháp điều chế peptides và proteins

1985 Herbert A. Hauptman (1917),Jerome Karle (1918) USA
Phát triển phương pháp trực tiếp đê xác định cấu trúc các tinh thể

1986 Dudley Herschbach (1932)and Yuan T. Lee (1936)-USA,
John C. Polanyi (1929) Canada
Động học về các quá trình hóa học cơ bản

1987 Donald J. Cram (1919)USA
Charles J. Pedersen (1904-1989)USA
Jean-Marie Lehn (1939) France
Sự khai triển và cách dùng của những phân tử có tương tác cấu trúc đặc biệt với sự chọn lựa kỹ

1988 Johann Deisenhofer (1943)
Robert Huber (1937)
Hartmut Michel (1948) Germany
Nghiên cứu trên cấu trúc protein dùng trong quang hợp: xác định cấu trúc 3 chiều của trung tâm phản ứng quang hợp (photosynthetic reaction center)

1989 Thomas R. Cech (1947)
Sidney Altman (1939) USA
USA Khám phá tính chất xúc tác của RNA (ribonucleic acid)
1990 Elias James Corey (1928) USA

Phát triển phương pháp mới cho sự tổng hợp các hợp chất hữu cơ thiên nhiên (retrosynthetic analysis)

1991 Richard R. Ernst (1933) Thụy Sĩ
Phát triển phương pháp học cho phổ cộng hưởng từ hạch tâm với độ phân giải cao(high resolution nuclear magnetic resonance spectroscopy, NMR)

1992 Rudolph A. Marcus (1923, gốc Canada) USA
Thuyết về sự truyền điện tử Theories of electron transfer

1993 Kary B. Mullis (1944)USA
Michael Smith (1932, gốc Anh)Canada
Phát minh phương pháp polymerase chain reaction (PCR) để cấy DNA

Công trình cơ bản trên nguồn gốc sự đột biến (mutagenesis) căn cứ trên việc dùng các oligonucleotides và áp dụng sự đột biến để nghiên cứu các proteines

1994 George A. Olah (1927) USA
Sáng chế phương pháp để làm các carbocations bền để nghiên cứu cấu trúc, độ bền và phản ứng của chúng bằng phương pháp phổ học

1995 Paul Crutzen (1933) HALAN
Mario Molina (1943, gốc Mexico)USA
F. Sherwood Rowland (1927) USA
Công trình về hóa học khí quyển:sự cân bằng ozone trong khí quyển, đặc biệt về sự tạo thành và phân hủy của ozone bởi các gốc tự do.

1996 Harold W. Kroto (1939)Anh
Robert F. Curl, Jr. (1933)USA
Richard E. Smalley (1943) USA
Khám phá fullerenes

1997 Paul D. Boyer (1918)USA
John E. Walker (1941)Anh
Jens C. Skou (1918)Dan Mạch
Làm sáng tỏ cơ chế dùng enzym để tổng hợp adenosine triphosphate (ATP)
Người khám phá ra đầu tiên ion mang enzyme là ion Na+, K+-ATPase
1998 Walter Kohn (1923)USA
John A. Pople (1925-2004)Anh
Khai triển thuyết density-functional để nghiên cứu cơ chế phản ứng hóa học bằng enzymes, thí dụ khi nước dược biến đổi thành oxygen trong sự quang hợp

Phát triển phương pháp kỹ thuật máy tính trong hóa lượng tử (quantum chemistry, GAUSSIAN computer programs) phục vụ cho việc kiểm tra và xác định cấu trúc hóa học và những chi tiết của vật chất

1999 Ahmed H. Zewail (1946, gốc Egypt) USA
Nghiên cứu những giai đoạn chuyển tiếp cùa các phản ứng hóa học bằng cách dùng máy chụp hình laser cực nhanh, bằng 10-15 giây máy femtosecond spectroscopy
2000 Alan J. Heeger ( 1936)USA
Alan G. MacDiarmid (1927)USA
Hideki Shirakawa (1936) Japan
Khám phá và phát triển các chất nhựa dẫn điện (conductive polymers)

2001 William S. Knowles (1917)USA
Ryoji Noyori (1938)Japan
K. Barry Sharpless (1941)USA

Nghiên cứu những phản ứng hydrogen hóa xúc tác bởi chất triền quang (chirally catalysed hydrogenation reactions)

Nghiên cứu những phản ứng oxd hóa xúc tác bởi chất triền quang (chirally catalysed

2002 John B. Fenn (1917)USA
Koichi Tanaka (1959)Japan
Kurt Wüthrich (1938)Thụy Sĩ

Phát triển những phương pháp ion hóa về giải hấp nhẹ cho sự phân tích phổ khối lượng của các chất đại phân tử trong sinh học

phát triển phổ từ cộng hưởng hạch tâm để xác định cấu trúc không gian ba chiểu của chất đại phân tử trong sinh học

John A. Pople (1925-2004)USA

Anh

Khai triển thuyết density-functional để nghiên cứu cơ chế phản ứng hóa học bằng enzymes, thí dụ khi nước dược biến đổi thành oxygen trong sự quang hợp

Phát triển phương pháp kỹ thuật máy tính trong hóa lượng tử (quantum chemistry, GAUSSIAN computer programs) phục vụ cho việc kiểm tra và xác định cấu trúc hóa học và những chi tiết của vật chất
1999 Ahmed H. Zewail (1946, gốc Egypt) USA Nghiên cứu những giai đoạn chuyển tiếp cùa các phản ứng hóa học bằng cách dùng máy chụp hình laser cực nhanh, bằng 10-15 giây máy femtosecond spectroscopy
2000 Alan J. Heeger ( 1936)
Alan G. MacDiarmid (1927)
Hideki Shirakawa (1936) USA
USA
Japan Khám phá và phát triển các chất nhựa dẫn điện (conductive polymers)
2001 William S. Knowles (1917)
Ryoji Noyori (1938)

K. Barry Sharpless (1941)
USA
Japan
USA Nghiên cứu những phản ứng hydrogen hóa xúc tác bởi chất triền quang (chirally catalysed hydrogenation reactions)

Nghiên cứu những phản ứng oxd hóa xúc tác bởi chất triền quang (chirally catalysed
2002 John B. Fenn (1917)
Koichi Tanaka (1959)

Kurt Wüthrich (1938)
USA
Japan
Thụy Sĩ Phát triển những phương pháp ion hóa về giải hấp nhẹ cho sự phân tích phổ khối lượng của các chất đại phân tử trong sinh học

phát triển phổ từ cộng hưởng hạch tâm để xác định cấu trúc không gian ba chiểu của chất đại phân tử trong sinh học

2003 Peter Agre (1949),Roderick MacKinnon (1956)USA

Khảo sát các đường dẫn nước và ions trong các tế bào sinh vật:

Khám phá các kênh (channels) trong màng tế bào

Khám phá những kênh nước Discoveries concerning channels in cell membranes:

Cấu trúc và nghiên cứu cơ chế của ion kênh .

Nobel Hoá Học 2004

Aaron Ciechanover và Avram Hershko (người Israel) cùng với Irwin Rose vào những năm 1980 đã khám phá ra rằng các tế bào sẽ tặng một “nụ hôn tử thần” lên những protein mà hệ miễn dịch sẽ phải tiêu diệt. Các protein bị đánh dấu này sau đó bị hệ miễn dịch “chặt” ra nhiều mảnh nhỏ.

Sự “thủ tiêu protein có chủ định” chi phối nhiều quá trình trong cơ thể như phân chia tế bào, sửa chữa ADN và kiểm soát chất lượng của việc sản xuất protein mới, là những quá trình phòng thủ quan trọng của hệ miễn dịch.

“Khi quá trình tiêu hủy protein gặp trục trặc, chúng ta sẽ bị ốm. Hai ví dụ cho trường hợp này là chứng ung thư họng và xơ hóa u nang”, Hội đồng trao giải cho nhận định, đồng thời bổ sung thêm rằng những phát kiến của ba nhà khoa học đã “tạo ra cơ hội để phát triển những loại thuốc chống lại các căn bệnh này”.

Ciechanover, 57 tuổi, là giám đốc của Viện nghiên cứu Y khoa Rappaport Family tại Technion ở Haifa, Israel, trong khi Hershko, 67 tuổi, gốc Hungary, là một giáo sư ở đó.

Rose là một chuyên gia tại phòng sinh lý học và lý sinh, thuộc trường Y, Đại học tổng hợp Irvine, bang California, Mỹ.
Xem ảnh :
Avram Hershko (trái) và Aaron Ciechanover.

Nobel Hoá Học 2005

Giải Nobel Hóa học năm nay được chia đều cho 3 ba nhà khoa học: giáo sư Yves Chauvin (người Pháp), giáo sư Robert H. Grubbs thuộc Viện công nghệ California và giáo sư Richard R. Schrock thuộc Viện công nghệ Massachusetts, Hoa Kỳ. Cả ba ông đều đã góp công phát triển phương pháp hoán vị trong tổng hợp các hợp chất hữu cơ.

Phương pháp hoán vị đã trở thành một trong những phương pháp được ứng dụng rộng rãi nhất trong hóa học hữu cơ. Nó cho phép tổng hợp nhân tạo các hợp chất quan trọng như các dược phẩm… Trong phản ứng hoán vị, người ta sử dụng các chất xúc tác đặc biệt để bẻ gãy cũng như tạo ra các nối đôi giữa các nguyên tử carbon, điều này dẫn đến sự thay đổi vị trí của các nhóm phân tử.

Phương pháp này có nhiều ưu điểm nổi bật như: hiệu suất tổng hợp cao (phản ứng ít giai đoạn hơn, cần ít nguyên liệu hơn, sinh ra ít chất thải hơn), dễ sử dụng (xúc tác bền trong không khí ở nhiệt độ và áp suất thường) và thân thiện với môi trường (dung môi và các chất thải ít độc hại).

Được biết, từ năm 1971 giáo sư Yves Chauvin đã có thể mô tả một cách chi tiết các diễn biến của phản ứng hoán vị và đã dự đoán được những loại xúc tác cần cho phản ứng này. Giáo sư Richard Schrock là ngưòi đầu tiên tạo ra được một chất xúc tác kim loại cực kỳ hiệu quả cho phản ứng hoán vị vào năm 1990. Hai năm sau, giáo sư Robert Grubbs đã tìm ra một xúc tác có nhiều ưu điểm hơn, có độ bền cao trong không khí và chất này đã nhanh chóng được ứng dụng rộng rãi.

Phản ứng hoán vị là một bước tiến lớn đưa con người đến gần với mục tiêu “hóa học xanh”. Ngày nay, phản ứng này được ứng dụng chủ yếu trong công nghiệp dược phẩm và vật liệu polymer cao cấp.

Gần nửa thế kỷ sau khi cha mình đoạt giải Nobel, giáo sư người Mỹ Roger D. Kornberg cũng giành được giải Nobel Hoá học năm nay nhờ nghiên cứu về việc tế bào lấy thông tin từ gene như thế nào để tạo ra protein.

Công trình nghiên cứu tế bào đoạt giải Nobel Hoá học 2006

Roger D. Kornberg (phải) và người cha của mình.
Roger D. Kornberg (phải) và người cha của mình. (Ảnh: AP)

Công trình của ông tạo ra một bức tranh chi tiết về quá trình này, gọi là quá trình đọc chép, Viện hàn lâm khoa học hoàng gia của Thuỵ Điển cho biết. Những xáo trộn trong quá trình đọc chép này xảy ra trong rất nhiều căn bệnh của con người, bao gồm ung thư, bệnh tim và nhiều loại viêm nhiễm khác. Phát hiện của Kornberg đã giúp đặt nền tảng cho việc phát triển nhiều loại thuốc chống những căn bệnh này.Phát biểu tại buổi họp báo, Kornberg cũng cho biết: “Sẽ có những biện pháp chữa trị đặc hiệu cho một vài căn bệnh trong thập kỷ tới”.

Quá trình đọc chép giúp gene nhận ra protein nào mà tế bào sản xuất. Trong quá trình này, thông tin từ gene sẽ được sử dụng để tạo ra các phân tử gọi là “sứ giả ARN“. Những phân tử này sẽ chuyển thông tin tới cỗ máy chế tạo protein trong tế bào. Ngược lại, protein cũng hoạt động như kết cấu của tế bào giúp tế bào vận hành một cách có hiệu quả.

“Nhờ sự khéo léo của mình, Kornberg đã có thể đóng băng giữa chừng quá trình xây dựng ARN. Nhờ đó ông có thể ghi lại được toàn bộ quá trình đọc chép đó và tạo nên một cuộc cách mạng thực sự”, hội đồng trao giải phát biểu.

Nhà khoa học 59 tuổi là thành viên của Trường y thuộc Đại học Stanford ở Palo Alto, California. Cha của ông là Arthur Kornberg cũng đã giành giải Nobel Y học vào năm 1959 nhờ công trình về di truyền học.

Roger D. Kornberg là người duy nhất đạt giải về hoá học và là người Mỹ thứ năm đoạt giải Nobel năm nay. Giải Nobel Hoá học năm ngoái thuộc về Yves Chauvin người Pháp cùng Robert H. Grubbs và Richard R. Schrock người Mỹ, nhờ phát hiện ra cách làm giảm chất thải độc hại khi tạo ra các hoá chất mới.

M.T.

Theo AP, Vnexpress

Người Đức đoạt Nobel Hóa học 2007

Lao Động Điện tử Cập nhật: 5:45 PM, 10/10/2007
Giáo sư Gerhard Ertl đã đoạt giải Nobel Hóa học năm nay.
(LĐĐT) – Trái với các dự đoán, Nobel Hóa học 2007 đã được trao cho nhà khoa học người Đức Gerhard Ertl với công trình “Các tiến trình hóa học trên bề mặt chất rắn”.

Gerhard Ertl năm nay 71 tuổi, là giáo sư tại Viện Nghiên cứu Fritz-Haber thuộc trường Đại học Max-Planck, CHLB Đức.

Viện Khoa học hoàng gia Thụy Điển đánh giá, nghiên cứu của Ertl đã đặt nền móng cho ngành hóa học bề mặt hiện đại. Công trình của ông đã giúp giải thích pin nhiên liệu hoạt động ra sao, làm thế nào mà bộ phận ống xả có thể gạn lọc chất độc thải ra từ khói xe và thậm chí tại sao bàn là lại bị rỉ.

Cũng theo Viện hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển, Ertl đã mô tả một cách chi tiết quá trình xảy ra các phản ứng hóa học trên các bề mặt và nghiên cứu sâu một số bí ẩn cơ bản nhất của các quá trình ấy. Ông đã thu được những thành quả quan trọng trong một lĩnh vực đầy khó khăn, và những khám phá của ông có thể được ứng dụng cả trong nghiên cứu lý thuyết lẫn phát triển công nghiệp.

Phát biểu với báo giới sau lễ trao giải Nobel Hóa học, Ertl nói: “Đây là món quà sinh nhật tuyệt vời nhất trong đời tôi”.

Giải Nobel Hóa học, cùng với các giải Nobel Vật lý, Y học, Văn học và Kinh tế (trị giá mỗi giải thưởng là 1,5 triệu USD) sẽ được nhà vua Thụy Điển Carl Gustaf XVI trao vào ngày 10.12 tại Stockholm (Thụy Điển), nhân kỷ niệm ngày mất của Afred Nobel.

2008


TTO – Hai nhà khoa học Mỹ và một nhà khoa học Nhật đã giành giải Nobel hóa học 2008 nhờ có công khám phá protein phát huỳnh quang xanh, được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như y học, công nghệ sinh học và sinh học tế bào.

Theo Viện Hàn lâm khoa học hoàng gia Thụy Điển, ba nhà khoa học: Osamu Shimomura (Nhật Bản), Martin Chalfie (Mỹ) và Roger Tsien (Mỹ) đã được chọn trao giải Nobel nhờ công trình nghiên cứu về protein phát huỳnh quang xanh, hay còn gọi là GFP (green fluorescent protein).

Protein này là một dụng cụ thí nghiệm được sử dụng khá rộng rãi giúp các nhà khoa học theo dõi các quá trình ở sinh vật sống, chẳng hạn quá trình phát triển của các tế bào não hoặc sự lây lan của các tế bào ung thư.

Nhà khoa học Shimomura lần đầu tiên phân lập được GFP từ một con sứa được tìm thấy ngoài khơi biển Bắc Mỹ vào năm 1962 và phát hiện rằng nó phát ánh sáng màu xanh lục dưới ánh sáng cực tím. Vào những năm 1990, Chalfie đã chứng minh GFP là “một chuỗi gen phát sáng”, sau đó Tsien đã khám phá cơ chế hoạt động của GFP.

Theo hội đồng xét giải, công trình nghiên cứu của bộ ba nói trên “cho phép các nhà khoa học theo dõi nhiều quá trình sinh học khác nhau vào cùng thời điểm”. Điều này có nghĩa là các nhà nghiên cứu có thể sử dụng GFP để theo dõi sự hư hại của tế bào thần kinh do ảnh hưởng của bệnh Alzheimer hoặc quan sát cách thức hình thành các tế bào beta sản sinh insulin ở tuyến tụy của bào thai đang phát triển.

Nhà khoa học Shimomura sinh năm 1928, đang công tác tại Phòng thí nghiệm sinh vật biển ở Woods Hole, Massachusetts và Trường ĐH Boston.

Nhà khoa học Chalfie sinh năm 1947, là giáo sư Trường ĐH Columbia ở New York, còn nhà khoa học Tsien sinh năm 1952, là giáo sư Trường ĐH California, San Diego.

Theo Tuổi trẻ online

Nobel Hóa học 2009 tôn vinh những nghiên cứu về ribosome
Nobel Hóa học 2009 đã được Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thuỵ Điển công bố lúc 16h45 ngày 7/10 (giờ Việt Nam). Chủ nhân của giải thưởng năm nay là 3 nhà khoa học gồm: Venkatraman Ramakrishnan (sinh năm 1952 tại Ấn Độ, hiện mang quốc tịch Mỹ và là GS.TS tại Phòng thí nghiệm Sinh học Phân tử, Cambridge, Anh), Thomas A. Steitz (sinh năm 1940, người Mỹ, GS.TS về sinh học phân tử và hoá sinh, Đại học Yale, Mỹ) và Ada E. Yonath (sinh năm 1939, người Israel, hiện là GS.TS về sinh học cấu trúc tại Viện Khoa học Weizmann, Rehovot, Israel) – người phụ nữ thứ tư trong lịch sử giành giải Nobel Hóa học và là nhà khoa học nữ đầu tiên giành giải thưởng cao quý này kể từ năm 1964.
Trong thông cáo báo chí được đưa ra hôm 7/10, Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thuỵ Điển cho biết 3 nhà khoa học đoạt giải “vì những nghiên cứu về cấu trúc và chức năng của ribosome” – những cứu về một trong những quy trình cốt lõi nhất của sự sống. Ribosome là một trong những thể hạt nhỏ, phức tạp, gồm các protein khác nhau và 3 phân tử axit ribonucleic, nó tổng hợp các protein trong tế bào. Ribosome tạo ra các protein để kiểm soát về hoá học mọi cơ thể sống. Do các ribosome là thiết yếu cho sự sống, nên chúng còn là đối tượng chính cho nghiên cứu các thuốc kháng sinh mới. Viện Khoa học Hoàng gia Thụy Điển tuyên bố phát hiện về ribosome của 3 nhà khoa học trên giúp giới khoa học hiểu rõ hơn về sự sống và phát triển thành công nhiều loại thuốc kháng sinh mới để điều trị nhiều chứng bệnh khác nhau.

Venkatraman Ramakrishnan, Thomas A. Steitz và Ada E. Yonath đã chỉ rõ được cấu trúc và chức năng của ribosome là như thế nào ở cấp độ nguyên tử. Cả 3 nhà khoa học đều sử dụng phương pháp được gọi là vẽ biểu đồ tinh thể bằng X quang (X-ray crystallography) để xác định vị trí của hằng trăm ngàn nguyên tử tạo thành ribosome được coi là cơ sở sản xuất protein của tế bào.

Trong mọi tế bào của mọi cơ thể sống đều có các phân tử ADN. Chúng chứa đựng các các “bản thiết kế” (blueprints) để cho thấy một con người, một loại cây hay một vi khuẩn trông như thế nào và hoạt động thế nào. Các blueprint được biến đổi thông qua hoạt động của các ribosomes. Dựa trên thông tin trong ADN, các ribosomes tạo ra protein như haemoglobin vận chuyển oxy, các kháng thể của hệ miễn dịch, các hoóc môn như insulin, collagen của da… Có hàng chục ngàn protein trong cơ thể và chúng có những dạng và chức năng khác nhau. Chúng hình thành và kiểm soát sự sống ở cấp độ hoá học.

Hiểu biết về hoạt động bên trong của ribosome là rất quan trọng đối với khoa học sự sống. Những hiểu biết này có thể ứng dụng ngay vào thực tiễn, nhiều loại thuốc kháng sinh ngày nay điều trị nhiều căn bệnh bằng cách ngăn chặn chức năng của các ribosome của vi khuẩn. Khi không có các ribosome chức năng, vi khuẩn không thể sống được. Điều này giải thích vì sao các ribosome là “mục tiêu” quan trọng cho các loại thuốc kháng sinh mới.

3 nhà khoa học được vinh danh năm nay đã tạo ra các mô hình 3 chiều (3D) để chỉ ra rằng các loại thuốc kháng sinh khác nhau đã làm tê liệt chức năng của ribosome trong tế bào vi khuẩn như thế nào, khiến vi khuẩn không thể sản xuất những loại protein cần thiết để tồn tại. Các mô hình này hiện nay được nhiều nhà khoa học khác sử dụng để phát triển các thuốc kháng sinh mới nhằm điều trị những căn bệnh viêm nhiễm khó chữa do vi khuẩn gây nên.

Giải thưởng 1,4 triệu USD được chia đều cho 3 nhà nghiên cứu. Mỗi người cũng được trao một giấy chứng nhận và một giấy mời tới dự Lễ trao Giải thưởng tại Stockholm, Thụy Điển vào ngày 10/12 tới.

NACESTI (theo http://nobelprize.org)

Advertisements